^Back To Top

CÂY CHỔI XUỂ Ở HÀ TĨNH: PHÂN BỐ, KHAI THÁC VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN

Cây chổi xuể (tên khoa học Baeckea frutescens L., họ Sim – Myrtaceae) là loài cây bụi nhỏ mọc tự nhiên khá phổ biến ở nhiều vùng trung du và miền núi của Việt Nam. Cây thường cao từ 0,5–1,5 m, thân phân nhiều cành nhỏ, lá nhỏ dạng kim, hoa màu trắng và có mùi…
Default Image
76

THẠCH HÀ: TẬP TRUNG CHĂM SÓC VỤ LÚA XUÂN 2026 – LÚA ĐANG BƯỚC VÀO GIAI ĐOẠN ĐẺ NHÁNH

Tính đến cuối tháng 2/2026, xã Thạch Hà đã hoàn thành kế hoạch gieo cấy lúa vụ Xuân. Hiện…
Default Image
183

PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN PHÒNG THÍ NGHIỆM BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG TRÂU BÒ

TÓM TẮT Chẩn đoán lâm sàng bệnh LMLM (Lở mồm long móng) có thể thực hiện khi bệnh xẩy ra…
274

GIẢNG VIÊN KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ MÔI TRƯỜNG 2 LẦN LIÊN TIẾP ĐẠT GIẢI CUỘC THI KHỞI NGHIỆP VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CẤP TỈNH

Ngày 21/12/2025 tại Hà Tĩnh đã diễn ra vòng chung kết cuộc thi “Khới nghiệp và đổi mới…
527

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO VỆ, PHÁT TRIỂN RỪNG ĐẶC DỤNG THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TẠI HÀ TĨNH

Link bài viết: Thực trạng và giải pháp bảo vệ, phát triển rừng đặc dụng theo hướng bền…
541

Khoa Nông nghiệp - Môi trường Tổ chức thành công Hội nghị Viên chức và Người lao động năm học 2025 – 2026

Vào hồi 14h, thứ 2 ngày 27/10/2025, Khoa Nông nghiệp - Môi trường đã long trọng tổ chức…

Cây chổi xuể (tên khoa học Baeckea frutescens L., họ Sim – Myrtaceae) là loài cây bụi nhỏ mọc tự nhiên khá phổ biến ở nhiều vùng trung du và miền núi của Việt Nam. Cây thường cao từ 0,5–1,5 m, thân phân nhiều cành nhỏ, lá nhỏ dạng kim, hoa màu trắng và có mùi thơm nhẹ do chứa tinh dầu. Loài cây này sinh trưởng tốt trên các loại đất nghèo dinh dưỡng, đất cát hoặc đất đồi khô hạn, vì vậy thường xuất hiện ở các khu vực đồi trọc, bìa rừng hoặc đất hoang hóa.

Tại Hà Tĩnh, cây chổi xuể phân bố chủ yếu ở các vùng gò đồi, trung du và một số khu vực bán sơn địa. Các huyện có điều kiện sinh thái phù hợp như Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, Can Lộc, Đức Thọ và một số vùng ven biển có đất cát pha. Trong tự nhiên, cây thường mọc thành bụi nhỏ hoặc thành quần thể rải rác trên các sườn đồi thấp và khu đất ít bị canh tác. Khả năng chịu hạn tốt và thích nghi với điều kiện khí hậu nóng ẩm của miền Trung giúp loài cây này tồn tại khá phổ biến trong thảm thực vật tự nhiên của địa phương.

Hiện nay, việc sử dụng và khai thác cây chổi xuể ở Hà Tĩnh chủ yếu vẫn mang tính truyền thống và quy mô nhỏ. Người dân địa phương thường thu hái cành cây để làm chổi quét nhà, do cành nhỏ, dẻo và bền. Ngoài ra, trong kinh nghiệm dân gian, cây còn được sử dụng như một loại dược liệu thảo mộc, dùng để nấu nước xông giải cảm, giảm đau nhức hoặc hỗ trợ điều trị một số bệnh thông thường. Một số nghiên cứu cho thấy toàn cây có chứa tinh dầu thơm, vì vậy có thể được dùng để chưng cất tinh dầu phục vụ cho sản phẩm xoa bóp hoặc xông thảo dược. Tuy nhiên, tại Hà Tĩnh việc khai thác tinh dầu từ cây chổi xuể vẫn còn hạn chế và chưa hình thành quy mô sản xuất ổn định.

Về tiềm năng khai thác, cây chổi xuể được đánh giá là nguồn tài nguyên thực vật có giá trị nhất định. Cây có khả năng sinh trưởng trên đất nghèo dinh dưỡng, ít sâu bệnh và dễ tái sinh tự nhiên, nên có thể phát triển thành nguồn nguyên liệu dược liệu và tinh dầu nếu được nghiên cứu và quy hoạch trồng phù hợp. Ngoài ra, việc trồng cây trên các vùng đồi trọc hoặc đất thoái hóa còn góp phần phục hồi thảm thực vật và cải thiện môi trường sinh thái.

Trong bối cảnh nhu cầu sử dụng sản phẩm tự nhiên và dược liệu ngày càng tăng, cây chổi xuể cũng có tiềm năng thương mại hóa. Các hướng phát triển có thể bao gồm sản xuất tinh dầu chổi xuể, chế biến dược liệu khô, sản xuất các sản phẩm xông thảo dược hoặc phát triển nghề làm chổi thủ công từ nguyên liệu tự nhiên. Nếu được nghiên cứu sâu hơn về thành phần hóa học, giá trị dược liệu và xây dựng chuỗi sản xuất – tiêu thụ, cây chổi xuể có thể trở thành một nguồn tài nguyên sinh học có giá trị kinh tế cho các vùng trung du và miền núi của Hà Tĩnh.

Nhìn chung, cây chổi xuể là loài cây bản địa có phân bố khá rộng ở Hà Tĩnh, hiện đang được khai thác chủ yếu ở mức độ tự nhiên và quy mô nhỏ. Tuy nhiên, với những đặc điểm sinh thái thuận lợi và giá trị tiềm năng về dược liệu và tinh dầu, loài cây này có khả năng được nghiên cứu và phát triển thành nguồn nguyên liệu phục vụ cho các sản phẩm thảo dược và sinh thái trong tương lai.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Đỗ Tất Lợi (2004), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội;
  2. Võ Văn Chi (2012), Từ điển cây thuốc Việt Nam (Tập 1–2), Nhà xuất bản Y học, Hà Nội;
  3. Phạm Hoàng Hộ (2003), Cây cỏ Việt Nam (An Illustrated Flora of Vietnam), Nhà xuất bản Trẻ, TP. Hồ Chí Minh;
  4. Nguyễn Nghĩa Thìn (2007), Các phương pháp nghiên cứu thực vật, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội;
  5. Viện Dược liệu (2016), Danh lục cây thuốc Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội;
  6. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2018), Tài nguyên cây dược liệu Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội.
  7. UBND tỉnh Hà Tĩnh (2020), Báo cáo hiện trạng tài nguyên rừng và đa dạng sinh học tỉnh Hà Tĩnh. Hà Tĩnh.
  8. Nguyễn Tiến Bân (Chủ biên) (2005), Danh lục các loài thực vật Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.
 Copyright © 2026 Khoa Nông nghiệp - Môi trường  Rights Reserved.