^Back To Top

(Bài đăng trên Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, Số 11 (2022), trang 48 – 50)

Chuyển đổi số sẽ mang lại cả cơ hội và thách thức tiềm năng đối với tài nguyên và môi trường. Hiện chưa có bằng chứng khoa học thuyết phục về tác động môi trường gián tiếp (tích cực) có thể lớn hơn tác động trực tiếp (tiêu cực) do chuyển đổi số gây ra hay không. Tuy nhiên, để có những bằng chứng thuyết phục và hạn chế được tác động tiêu cực, cần có các nghiên cứu để hiểu biết về các công nghệ trong chuyển đổi số liên quan đến nhu cầu tài nguyên và tác động môi trường của chúng. Song song với quá trình chuyển đổi số cần thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn, tuyên truyền, giáo dục để nâng cao kiến thức, thái độ, tăng cường năng lực của người tiêu dùng liên quan đến việc lựa chọn hàng hóa, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT) một cách bền vững và xây dựng các chính sách, luật pháp, thể chế để có thể giúp định hình chuyển đổi số và kinh tế số bền vững ở tất cả các cấp quản trị.

Sự gia tăng số hóa, tự động hóa, các quy trình thông minh và tính liên kết toàn cầu là một số động lực định hình lại cách con người suy nghĩ, làm việc, học hỏi, tổ chức trong xã hội. Những động lực này sẽ thay đổi hoàn toàn cách con người sống, làm việc và ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu nguồn nhân lực ngày nay. Kèm theo đó, việc sử dụng ngày càng nhiều CNTT-TT trong sản xuất công nghiệp, những rủi ro và cơ hội của những công nghệ này đối với tính bền vững của môi trường cũng như nhận thức chính trị về những rủi ro và cơ hội này ngày càng trở nên quan trọng.

Chuyển đổi số sẽ bao gồm việc sản xuất, sử dụng và thải bỏ phần cứng (sản phẩm cuối cùng của CNTT-TT, trung tâm dữ liệu, mạng truyền dữ liệu) cũng như phần mềm, công nghệ kỹ thuật số và các ứng dụng - từ robot, Internet vạn vật (IoT), thông qua các công nghệ sổ cái phân tán như blockchain, cho đến trí tuệ nhân tạo (AI). Vì vậy, công nghiệp 4.0 cũng có thể có những tác động tiêu cực đến môi trường. Chẳng hạn như sự lỗi thời của kỹ thuật số, khóa công nghệ và nhu cầu năng lượng và các dòng chất thải phát sinh từ quá trình chuyển đổi số. Theo nghiên cứu của Liu và cộng sự (2019) về tác động của chuyển đổi số đến tài nguyên và môi trường (TN&MT), trọng tâm tập trung các khía cạnh phi năng lượng và không liên quan đến khí nhà kính (KNK). Nghiên cứu đã tổng hợp các cơ hội môi trường và áp lực môi trường liên quan đến chuyển đổi số.

Tác động tích cực của chuyển đổi số tới tài nguyên và môi trường

Thúc đẩy ngành công nghiệp vì một nền kinh tế sạch và tuần hoàn: Các cơ hội môi trường (phi năng lượng) phát sinh từ quá trình chuyển đổi số có thể đóng một vai trò quan trọng trong mối quan hệ với nền kinh tế tuần hoàn, đặc biệt đối với việc giải quyết vấn đề rác thải điện tử. Quan trọng nhất, tiến bộ công nghệ đóng một vai trò trong việc thu gom và tái chế rác thải điện tử tốt hơn và tái sử dụng các vật liệu đã sử dụng. Ví dụ, sự tiến bộ trong công nghệ, cụ thể là sự ra đời của điện thoại thông minh và các ứng dụng di động khuyến khích người tiêu dùng tái chế rác thải điện tử tại các địa điểm chính thức để đổi lấy các động lực tài chính.

Bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái và đa dạng sinh học: Công nghệ kỹ thuật số có thể giúp giảm bớt áp lực lên môi trường tự nhiên và đa dạng sinh học ở nhiều khía cạnh. Các giải pháp hỗ trợ CNTT-TT giúp giám sát đa dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái. CNTT-TT cũng có thể giúp trực quan hóa và truyền đạt dữ liệu sinh học, do đó nâng cao nhận thức của cộng đồng và chính sách. Kỹ thuật số có thể hỗ trợ các mô hình kinh doanh thân thiện với đa dạng sinh học làm cho các mô hình kinh doanh trở nên khả thi nhằm ngăn chặn sự suy thoái của đa dạng sinh học hoặc hỗ trợ việc cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái, chẳng hạn như thông qua việc thúc đẩy phi vật chất hóa hoặc giảm nhu cầu tài nguyên thông qua các hoạt động chia sẻ.

Từ nông trại đến bàn ăn (Farm to Fork) (hệ thống thực phẩm công bằng, lành mạnh và thân thiện với môi trường): Một số đánh giá tác động môi trường của canh tác thông minh đã đưa ra bằng chứng về việc giảm sử dụng nước, sử dụng thuốc trừ sâu và phát thải khí N2O. Bên cạnh đó, nông nghiệp thông minh liên quan đến việc tăng cường truy xuất nguồn gốc trong nông nghiệp và chuỗi cung ứng thực phẩm, tăng cường lợi ích kinh tế và lợi ích liên quan đến quản lý rủi ro và an toàn thực phẩm.

Kỳ vọng về một môi trường không có chất độc hại: Liên quan đến giảm ô nhiễm, các cơ hội môi trường phi năng lượng cũng có thể phù hợp, đặc biệt là khi giải quyết vấn đề giảm ô nhiễm không khí. Các loại công nghệ đóng góp quan trọng nhất về mặt này là AI và blockchain. Các công cụ dựa trên AI đã được triển khai để theo dõi và dự báo mức độ ô nhiễm hoặc cho các phương tiện tự lái và đèn giao thông. Mặt khác, công nghệ blockchain có thể được sử dụng cho các hệ thống dựa trên phần thưởng nhằm thưởng cho những người giảm thiểu ô nhiễm bằng phần thưởng kỹ thuật số, có thể được đổi lấy các nhu cầu thiết yếu hàng ngày.

Các khía cạnh khác: Chuyển đổi số mang lại những tiềm năng cải thiện thông tin và kiến thức về môi trường, các chính sách môi trường được đổi mới theo hướng bền vững hơn; Chuyển đổi số sẽ tạo điều kiện cho các chính sách truy cập mở và dữ liệu mở, bao gồm việc cung cấp dữ liệu của chính phủ (dữ liệu mở) và dữ liệu khoa học (truy cập mở), tạo sự phát triển của các nền tảng chia sẻ dữ liệu, hoặc “hệ sinh thái kỹ thuật số cho môi trường” nhằm cung cấp dữ liệu sẵn có cho các chính sách môi trường và đổi mới ở cấp độ toàn cầu; Các công nghệ mới cũng được coi là cung cấp các cơ hội mới để thực hiện và thực thi hiệu quả các tiêu chuẩn môi trường; Các thông tin tốt hơn về chuỗi cung ứng, chi phí môi trường của sản phẩm (ví dụ như mã QR), dịch vụ hoặc dòng đầu tư có thể giúp người tiêu dùng đưa ra các quyết định bền vững hơn. Các dự án khoa học công dân được nối mạng xuyên quốc gia mang lại cơ hội mới cho nhận thức về môi trường và hiểu được sự phụ thuộc lẫn nhau trên toàn cầu.

Tác động tiêu cực của chuyển đổi số đến tài nguyên và môi trường

Những người ủng hộ chuyển đổi số thường xuyên nhấn mạnh tiềm năng cho phép của nó để giải quyết các vấn đề môi trường. Tuy nhiên, dựa trên phân tích các tài liệu liên quan, vẫn chưa rõ liệu các tác động môi trường gián tiếp (tích cực) có thể lớn hơn tác động trực tiếp tiêu cực hay không. Cũng theo nghiên cứu của Liu và cộng sự (2019), các nội dung sau đây tóm tắt các áp lực môi trường liên quan đến quá trình chuyển đổi số.

Tác động trực tiếp đến tài nguyên: Việc khai thác và chiết xuất các nguyên liệu thô (ví dụ: coban, palađi, tantali, bạc, vàng, indium, đồng, lithium và magie) cũng như sản xuất các thành phần vi điện tử, đặc biệt là các mạch tích hợp, là những yếu tố đóng góp chính cho cạn kiệt tài nguyên hóa thạch cũng như cạn kiệt tài nguyên phi sinh học, trái đất nóng lên, phú dưỡng nước ngọt, chua hóa đất, nhiễm độc con người, nhiễm độc nước ngọt, nhiễm độc biển và gây độc môi trường đất.

Tác động trực tiếp đến đa dạng sinh học và sử dụng đất cũng như thay đổi sử dụng đất: Các tác động chính do việc khai thác tài nguyên thiên nhiên cần thiết để sản xuất phần cứng, từ việc thải ra các vật liệu độc hại (như kim loại nặng, khói độc, nước rỉ axit) liên quan đến quá trình khai thác nguyên liệu thô, cũng như từ việc thu gom, tái chế không phù hợp và xử lý chất thải thiết bị điện và điện tử. Các tác động môi trường của việc phát điện (ví dụ như phát thải KNK) cũng có thể bao gồm các tác động đến đa dạng sinh học. Tác động của cáp truyền dữ liệu dưới nước đối với các loài sinh vật dưới nước...

Tác động gián tiếp và mang tính hệ thống đến môi trường: Không thể cho rằng chuyển đổi số sẽ mang lại lợi ích về tài nguyên, năng lượng hoặc các lợi ích môi trường khác. Cần có một cách tiếp cận tổng thể để hiểu đúng các tác động và đạt được kết quả tốt. Điều này không chỉ yêu cầu xem xét giai đoạn sử dụng, mà còn cả giai đoạn sản xuất và giai đoạn cuối vòng đời; không chỉ tập trung vào thiết bị CNTT, mà còn tập trung vào cơ sở hạ tầng cần thiết; không chỉ đo lượng khí thải các bon, mà còn các tác động khác; không chỉ thừa nhận các tác động trực tiếp mà còn gián tiếp và mang tính hệ thống, bao gồm các hình thức khuyến khích của các mô hình kinh doanh số. Chuyển đổi số không thể bền vững nếu nó không được điều chỉnh theo cách giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường của nó. Để thúc đẩy chuyển đổi số theo hướng bền vững hơn, điều bắt buộc là hiệu quả đạt được phải bù đắp được phần gia tăng tiêu thụ năng lượng và tài nguyên do tăng trưởng kinh tế gây ra.

Các chính sách bảo vệ môi trường liên quan đến chuyển đổi số

Kunkel và cộng sự (2020) đã phân tích các chính sách về chuyển đổi số, công nghiệp của 4 quốc gia châu Phi cận Sahara (Nam Phi, Rwanda, Kenya, Nigeria) và 3 quốc gia Đông Á và Thái Bình Dương (Trung Quốc, Thái Lan, Philippin) liên quan đến kỳ vọng của họ về tác động của CNTT-TT trong ngành công nghiệp vì sự bền vững của môi trường cho thấy rằng, các chính sách thể hiện một loạt các kỳ vọng không rõ ràng, tập trung nhiều hơn vào các tác động gián tiếp tích cực của việc sử dụng CNTT-TT (để nâng cao hiệu quả năng lượng và quản lý tài nguyên, hơn là về các tác động tiêu cực trực tiếp của CNTT-TT; tiêu thụ điện của CNTT-TT). Hơn nữa, kỳ vọng khác nhau giữa các quốc gia và không có chủ đề chung nào xuất hiện trong tất cả các chính sách.

Nghiên cứu khai phá tiềm năng của nền công nghiệp 4.0 đến môi trường, Berg và cộng sự (2021) cho rằng, nếu không có công nghệ kỹ thuật số, nền kinh tế tuần hoàn sẽ không thể được nhân rộng, đặc biệt là không có trong thế giới kỹ thuật số. Đồng thời, Công nghiệp 4.0 mà không tập trung rõ ràng vào một nền kinh tế tuần hoàn thực sự là một mối nguy hiểm đối với các mục tiêu bảo vệ khí hậu và giảm thiểu tác động. Phát triển kinh tế tuần hoàn trở thành xu hướng của các quốc gia, nhất là khi nguồn tài nguyên trên thế giới ngày càng cạn kiệt, giúp giải quyết bài toán giữa lợi ích kinh tế và môi trường.

Tại Việt Nam, so với Luật Bảo vệ Môi trường (BVMT) trước đây, điểm mới trong Luật BVMT năm 2020 của Việt Nam đã bổ sung quy định về kinh tế tuần hoàn và quy định Nhà nước có chính sách đầu tư xây dựng, vận hành hệ thống thông tin môi trường, hướng tới phát triển nền tảng số, kinh tế số về môi trường.

Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Chương trình chuyển đổi số tài nguyên và môi trường đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 với tầm nhìn đến 2030 là: quản lý, điều hành cơ bản trên phương thức, quy trình, mô hình của công nghệ số và kết quả phân tích, xử lý dữ liệu số; áp dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao. Tạo thế chủ động, hiệu lực, hiệu quả trong: quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ môi trường; bảo tồn, phát triển đa dạng sinh học; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; phòng chống và giảm nhẹ thiên tai; xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường.

Ngày 23/9/2022 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành văn bản số 2452/QĐ-BTNMT về Kế hoạch truyền thông ngày Chuyển đổi số quốc gia của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Mục đích của kế hoạch là Tuyên truyền đến toàn thể cán bộ, công chức viên chức, người lao động của Bộ Tài nguyên và Môi trường về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của chuyển đổi số đối với cuộc sống nói riêng của mỗi người và sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nói chung của đất nước trên tinh thần “Chuyển đổi số giải quyết các vấn đề của xã hội vì một cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân”, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động, thúc đẩy thực hiện chuyển đổi số toàn diện ngành tài nguyên và môi trường.

 Các văn bản chính sách ban hành là bước đi kịp thời nhằm thích ứng với nền kinh tế số. Tuy nhiên, trong các chính sách BVMT của Việt Nam chưa đề cập đến các nhiệm vụ và giải pháp liên quan đến phòng ngừa, giảm nhẹ tác động tiêu cực đến môi trường do quá trình chuyển đổi số gây ra.

Một số định hướng và giải pháp giúp cho quá trình chuyển đổi số bền vững

Để giảm thiểu tác động tiêu cực của chuyển đổi số đến TN&MT và giúp cho quá trình chuyển đổi số một cách bền vững, cần có một số định hướng và giải pháp sau đây:

Thứ nhất, cần có các nghiên cứu để hiểu biết về các công nghệ trong chuyển đổi số liên quan đến nhu cầu tài nguyên và tác động môi trường của chúng.

Thứ hai, cần xây dựng các phương pháp đánh giá và hướng dẫn đánh giá chuẩn để đánh giá tác động của các loại công nghệ liên quan đến chuyển đổi số đến tài nguyên và môi trường;

Thứ ba, mở rộng phạm vi đánh giá các loại tác động của chuyển đổi số đến môi trường (ngoài năng lượng và dấu chân các bon). Không nên bỏ qua các tác động môi trường khác, chẳng hạn như cạn kiệt tài nguyên phi sinh học, cạn kiệt nước, độc tính sinh thái và con người, vì những chuỗi liên quan đến môi trường này cũng có thể quan trọng tương tự;

Thứ tư, tuyên truyền, giáo dục để nâng cao kiến thức, thái độ, tăng cường năng lực của người tiêu dùng liên quan đến việc lựa chọn hàng hóa và ứng dụng CNTT-TT một cách bền vững;

Thứ năm, song song với quá trình chuyển đổi số cần thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn. Khuyến khích doanh nghiệp tham gia hoạch định chiến lược sản xuất, kinh doanh một cách bền vững, ứng dụng các mô hình kinh tế tuần hoàn, sản xuất, kinh doanh gắn liền với BVMT. Quy định chặt chẽ về trách nhiệm của doanh nghiệp với chất thải do doanh nghiệp tạo ra;

Thứ sáu, xây dựng các chính sách, luật pháp và thể chế để có thể giúp định hình chuyển đổi số, kinh tế số một cách bền vững ở tất cả các cấp quản trị (quốc gia thành viên, khu vực, thành phố…).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2020). Luật Bảo vệ Môi trường, số 72/2020/QH14.
  2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2021). Chương trình chuyển đổi số Tài nguyên và Môi trường đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Quyết định số 417/QĐ-BTNMT, ngày 10/3/2021.
  3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2022). Kế hoạch truyền thông ngày Chuyển đổi số quốc gia của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Quyết định 2452/QĐ-BTNMT 2022, ngày 23/9/2022.
  4. Berg H., Bendix P., Jansen M., Blévennec K. L., Bottermann P., Magnus-Melgar M., Pohjalainen E., Wahlström M. (2021). Unlocking the potential of Industry 4.0 to reduce the environmental impact of production. European Topic Centre on Waste and Materials in a Green Economy (ETC/WMGE).
  5. Kunkel S., Matthess M. (2020). Digital transformation and environmental sustainability in industry: Putting expectations in Asian and African policies into perspective. Environmental Science & Policy, Volume 112, October 2020, Pages 318-329. https://doi.org/10.1016/j.envsci.2020.06.022.
  6. Liu R., Gailhofer P., Gensch C.O., Köhler A., Wolff F. (2019). Impacts of the digital transformation on the environment and sustainability. Institute for Applied Ecology.

Tóm tắt

Cơ cấu ngành chăn nuôi Việt Nam hiện nay chủ yếu là chăn nuôi lợn chiếm 71%, chăn nuôi gia cầm chiếm 20% và chăn nuôi gia súc ăn cỏ chỉ chiếm 9%. Tổng đàn đàn lợn của cả nước giai đoạn 2016 - 2021 có chiều hướng giảm mạnh, năm 2016 là 29,075 triệu con và năm 2021 là 23,327 triệu con, giảm gần 20%; Đàn lợn nái giống ngoại có năng suất sinh sản trung bình 24 - 26 con cai sữa/nái/năm và bình quân sản xuất được 21 con lợn thịt xuất chuồng/nái/năm, khối lượng xuất chuồng bình quân trên 100 kg/con/năm đạt hơn 2 tấn thịt hơi/nái/năm, tiêu tốn 2,4 - 2,5 kg thức ăn/kg tăng khối lượng; Mặc dù là nước sản xuất và xuất khẩu lương thực nằm ở tốp đầu thế giới, song ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi Việt Nam vẫn phải nhập khẩu 70 - 80% nguyên liệu từ nước ngoài; Chăn nuôi lợn đang chuyển dịch từ chăn nuôi nhỏ lẻ, quy mô nhỏ, phân tán sang chăn nuôi trang trại, tập trung và hình thành chuỗi giá trị chăn nuôi, tuy nhiên số hộ chăn nuôi nhỏ lẻ cũng đang tồn tại với tỷ lệ lớn.

Từ khóa: Thực trạng chăn nuôi lợn, năng suất sinh sản.

Abstract

The current structure of Vietnam's livestock industry is mainly pig farming, accounting for 71%, poultry farming 20%, and herbivorous cattle raising only 9%. The total pig herd of the country in the period 2016 - 2021 tends to decrease sharply, in 2016 it is 29,075 million heads and in 2021 it is 23,327 million heads, down nearly 20%. The herd of foreign-bred sows has an average reproductive yield of 24 - 26 weaned pigs/sow/year and produces an average of 21 slaughter pigs/sow/year, with an average weight of over 100 kg head year reaching more than 2 tons of live meat sow year, consuming 2.4-2.5 kg of feed kg of weight gain. Although being a leading food producer and exporter in the world, Vietnam's animal feed industry still has to import 70-80% of its raw materials from abroad. Pig farming is shifting from small-scale, small-scale, and dispersed livestock production to farm farming, concentrating and forming livestock value chains, but the number of small-scale breeding households is also increasing.

Keywords: Situation of pig production, reproductive productivity.

1. Đặt vấn đề

Cơ cấu ngành chăn nuôi của Việt Nam hiện nay chủ yếu là chăn nuôi lợn chiếm 71%, chăn nuôi gia cầm chiếm 20% và chăn nuôi gia súc ăn cỏ chỉ chiếm 9% (Cục Chăn nuôi, 2019). Tuy nhiên, chăn nuôi lợn so với các nước trong khu vực và thế giới thì năng suất và chất lượng đàn giống của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Mặc dù các cơ quan nhà nước đã chú trọng đầu tư cho công tác cải tạo và nâng cấp đàn giống thông qua các chương trình lợn giống quốc gia, nhưng năng suất sinh sản bình quân của đàn lợn nhập ngoại ở các cơ sở chăn nuôi vẫn còn thấp so với năng suất sinh sản bình quân tại Mỹ, Canada, Hà Lan, Anh, Pháp, Đức, Đan Mạch.

Năng suất sinh sản của lợn nái ngoại ở Việt Nam còn thấp có thể là do khi nhập các giống lợn này về chúng ta vẫn áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng trong điều kiện khí hậu ôn đới, vì vậy chưa thực sự phù hợp với điều kiện nuôi dưỡng ở nước ta, một nước có khí hậu nhiệt đới. Để tăng số lợn con cai sữa/nái/năm (≥23 lợn con cai sữa/nái/năm), tăng tỷ lệ nuôi sống từ sơ sinh đến cai sữa (≥93%) và tăng chất lượng đàn lợn con cai sữa thì quy trình chăn nuôi lợn nái cao sản cần phải được cải tiến và hoàn thiện, như con giống, thức ăn, chuồng trại, chăm sóc nuôi dưỡng và vệ sinh phòng bệnh thú y trong các giai đoạn nuôi hậu bị, mang thai và nuôi con ở từng điều kiện chăn nuôi (chuồng kín, chuồng hở) đối với từng vùng sinh thái khác nhau (miền Bắc, miền Trung và miền Nam).

Để nâng cao năng suất và chất lượng đàn giống lợn của Việt Nam, cần có những nghiên cứu và đánh giá được hiện trạng chăn nuôi lợn (đặc biệt là lợn nái) về giống, thức ăn, chuồng trại và phương thức chăn nuôi, từ đó đề xuất một số vấn đề cần nghiên cứu trong thời gian tới.

2. Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Thông tin và số liệu được thu tập từ các báo cáo đánh giá của cơ quan ngành nông nghiệp, Tổng cục thông kê, Cục Chăn nuôi, các công trình nghiên cứu đã công bố của một số tác giả về thực trạng tình hình chăn nuôi lợn trong và ngoài nước.

- Từ các thông tin và số liệu được thu thập bằng phương pháp thứ cấp chúng tôi tiến hành tổng hợp, phân tích và đánh giá thực trạng tình hình chăn nuôi lợn nái ngoại ở Việt Nam và đưa ra một số vấn đề tồn tại.

3. Kết quả nghiên cứu

3.1. Thực trạng về tổng đàn, cơ cấu và sản lượng thịt lợn

Theo Tổng cục thống kê, nhìn chung tổng đàn đàn lợn của cả nước từ 2016 đến 2019 có chiều hướng giảm mạnh và tăng nhẹ từ năm 2020 đến năm 2021, năm 2016 là 29,075 triệu con và năm 2021 là 23,327 triệu con, giảm gần 20%. Năm 2020 tổng đàn lợn của cả nước là 22,028 triệu con, trong đó đàn nái chiếm 3,025 triệu con và lượng thịt hơi xuất chuồng là 4,020 triệu tấn. Năm 2021, tổng đàn lợn của cả nước là trên 23,327 triệu con tăng 12,99%, trong đó đàn nái là 3,213 triệu con tăng khoảng 2% và tổng sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng là 4,174 triệu tấn tăng 1,54% so với cùng kỳ năm 2020. Như vậy, so với năm 2020 chăn nuôi lợn cả nước năm 2021 đã tăng về tổng đàn và số lượng đàn nái, tuy nhiên số lượng lợn thịt xuất chuồng và lượng thịt hơi xuất chuồng tăng không đáng kể.

Bảng 1. Cơ cấu đàn lợn và sản lượng thịt lợn giai đoạn 2016 - 2021

Chỉ tiêu

ĐVT

2016

2017

2018

2019

2020

2021

Tổng đàn

Triệu con

29,075

27,406

28,151

20,209

22,028

23,327

Đàn nái

Triệu con

4,235

3,989

3,974

2,636

3,025

3,213

Số lợn thịt xuất chuồng

Triệu con

51,115

49,032

49,743

48,162

46,346

47,892

Lượng thịt hơi xuất chuồng

Triệu tấn

3,664

3,733

3,816

4,085

4,020

4,174

Nguồn: Tổng cục Thống kê (2016-2021)

Từ năm 2016 - 2019 chăn nuôi lợn cả nước có chiếu hướng giảm dần là do gặp nhiều khó khăn do về thị trường, tác động của dịch Covid-19 và ảnh hưởng nặng nề của dịch tả lợn châu Phi. Theo đánh giá của Tổng cục thống kê tính từ đầu tháng 2/2019 đến ngày 19/12/2019, dịch tả lợn châu Phi đã xảy ra tại 8.527 xã thuộc 667 huyện của 63 tỉnh, thành phố với tổng số lợn tiêu hủy gần 6 triệu con, tương đương với tổng trọng lượng 340,8 nghìn tấn, đây là nguyên nhân làm cho tổng đàn lợn cả nước năm 2019 giảm sâu. Đến năm 2020, dịch tả lợn châu Phi đã được kiểm soát khá tốt, tổng số lợn bị tiêu hủy trong năm chỉ bằng 1,5% so với năm 2019. Tuy nhiên, năm 2020, công tác tái đàn còn chậm do giá con giống vẫn ở mức cao, các hộ chăn nuôi không có đủ nguồn lực để đầu tư tái đàn sau thời gian dài bị thiệt hại vì dịch bệnh, việc tái đàn chủ yếu ở các cơ sở chăn nuôi lớn có đủ nguồn lực, chủ động được con giống. Đây là nguyên nhân chính khiến việc tái đàn của người dân không thể nhanh như kỳ vọng.

3.2. Chất lượng con giống

Việt Nam đã nhập các nguồn gen lợn cao sản chất lượng cao thuộc các dòng, giống Landrace, Yorkshire, Duroc và Pietrain từ các nước Pháp, Mỹ, Canada, Thái Lan, Đài Loan, Đan Mạch để làm nguyên liệu lai tạo ra đàn lợn nái sản xuất. Đàn lợn nái sản xuất hiện nay đối với lợn ngoại chủ yếu là các dòng lai hoặc dòng tổng hợp được kết hợp giữa các nguồn khác nhau trong cùng giống hay lai khác giống (chiếm 80%) (Cục Chăn nuôi, 2019). Việt Nam hiện nay cũng có nguồn gen các giống lợn bản địa rất phong phú gồm trên 20 giống, đặc biệt là các giống lợn Móng Cái, lợn Hương ... sử dụng làm nái nền lai với đực ngoại phục vụ xuất khẩu lợn sữa và lợn choai. Nái lai giữa lợn ngoại với lợn bản địa và lợn nái bản địa thuần chiếm tỷ lệ 20% (Cục Chăn nuôi, 2019).

Cơ cấu giống lợn hiện nay đã có sự thay đổi theo định hướng tăng tỷ lệ lợn nái ngoại từ 19,8% (năm 2013) lên 20,4% (năm 2014) và đạt 22,4% (năm 2015). Và năm 2019 cả nước có khoảng 127,642 con lợn nái cụ kỵ, ông bà giống Landrace, Yorkshire, Duroc và một lượng nhỏ giống Pietrain để sản xuất ra đàn giống bố mẹ từ các tổ hợp lai giữa các giống ngoại nhập và các tổ hợp lai giữa các giống lợn nội của Việt Nam với giống ngoại nhập với tổng đàn nái bố mẹ chiếm khoảng 60% so với tổng đàn nái của cả nước (Tổng cục thống kê, 2020).

Đàn lợn nái giống có năng suất và chất lượng ngày càng được nâng cao, số con sơ sinh sống/ổ tăng từ 9,8 con lên 11,2 con; số con cai sữa/ổ tăng từ 9,0 con lên 10,2 con, số con cai sữa/nái/năm từ 17 - 18 con lên 21 - 23 con. Năng suất sinh sản trung bình của đàn nái bố mẹ đạt 24 - 26 con cai sữa/nái/năm và bình quân sản xuất được 21 con lợn thịt xuất chuồng/nái/năm, khối lượng xuất chuồng bình quân trên 100 kg/con/năm đạt hơn 2 tấn thịt hơi/nái/năm, tiêu tốn 2,4 - 2,5 kg thức ăn/kg tăng khối lượng. Một số dòng lợn được chọn tạo trong nước đạt năng suất sinh sản 26 - 28 con cai sữa/nái/năm(Cục Chăn nuôi, 2019).

Cục Chăn nuôi (2019), cho biết đàn lợn nái bản địa, chất lượng con giống chưa cao 1,8 lứa đẻ/nái/năm, khối lượng xuất chuồng khoảng 51 kg, tính bình quân chỉ sản suất được 10 con lợn thịt xuất chuồng/nái/năm đạt hơn 500 kg thịt hơi/nái/năm, tiêu tốn thức ăn cao khoảng 4,5-5,2 kg thức ăn/kg tăng khối lượng.

Hằng năm, các giống lợn cụ kỵ, ông bà của giống Duroc, Landrace và Yorkshire được nhập khẩu vào Việt Nam. Trong đó về số lượng giống Yorkshire chiếm 39,1%, Landrace chiếm 34,1%, Duroc chiếm 22% và Pietrain chiếm 4,8% (Cục Chăn nuôi, 2019).

Trên cơ sở các giống lợn trong nước và các giống nhập ngoại, Việt Nam đã thành công trong việc tạo ra các dòng, giống mới có năng suất tương đương giống ngoại nhập. Từ các giống lợn ngoại nhập đã chọn, tạo ra những giống có năng suất, chất lượng cao và có khả năng thích nghi tốt với điều kiện chăn nuôi của nước ta như các giống TH12, TH21 và ĐC1 từ kết quả nghiên cứu của Phạm Duy Phẩm (2016). Tuy nhiên, bên cạnh đó ở khu vực nông hộ, đặc biệt là vùng núi, vùng sâu nhiều con giống được tạo ra từ sản xuất nông hộ không đảm bảo chất lượng vẫn được sử dụng.

3.3. Thức ăn

3.3.1. Tình hình chung                     

Theo Cục Chăn nuôi (2021), ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam tăng trưởng rất nhanh. Năm 2015, tổng sản lượng thức ăn chăn nuôi (TACN) cả nước đạt 15,846 triệu tấn thì đến năm 2020 đã đạt 20,295 triệu tấn. Tăng trưởng về sản lượng TACN trong cả giai đoạn đạt 28,5%; trung bình 5,7%/năm. Sản lượng tập trung chủ yếu ở các tỉnh khu vực đồng bằng đã chiếm trên 85,1% còn lại là các khu vực khác, cụ thể: Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) chiếm 38,9%; Đông Nam Bộ (ĐNB) chiếm 32,5%;  Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) chiếm 13,7%. Các cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi quy mô nhỏ đã dần được thay thế bởi các cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi quy mô vừa và lớn. Việt Nam trở thành nước đứng thứ 10 thế giới và số 1 khu vực Đông Nam Á về sản lượng thức ăn chăn nuôi sản xuất công nghiệp, xếp trên cả Thái Lan (18,6 triệu tấn) và Indonesia (18,3 triệu tấn). Mặc dù là nước sản xuất và xuất khẩu lương thực nằm ở tốp đầu thế giới, song ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi nước ta vẫn phải nhập khẩu 70-80% nguyên liệu từ nước ngoài. Nguyên nhân là do các loại nguyên liệu sản xuất thức ăn như ngũ cốc, đậu tương, khô dầu các loại, phụ gia... hiện Việt Nam sản xuất không đủ hoặc do giá thành quá cao so với sản phẩm nhập khẩu cùng loại.

Bảng 2. Sản lượng TACN giai đoạn 2015-2020 theo vùng sinh thái (1.000 tấn)

TT

Vùng

2015

2016

2017

2018

2019

2020

1

Bắc Trung Bộ

189

153

259

304

470

541

2

Duyên Hải NTB

935

1,595

1,438

1,453

1,667

1,645

3

Đông Bắc

364

410

319

344

422

499

4

ĐBSCL

2,421

3,277

3,352

3,012

2,947

2,785

5

ĐBSH

6,799

8,889

7,826

7,798

7,268

7,902

6

Đông Nam Bộ

5,006

5,661

5,993

5,753

5,975

6,589

7

Tây Bắc Bộ

129

165

192

145

191

330

Tổng số

15,846

20,152

19,381

18,813

18,942

20,295

Tăng trưởng (%)

 

27,2

-3,8

-2,9

0,7

7,1

Nguồn: Cục Chăn nuôi (2021)

Sản lượng TACN được duy trì khá ổn định ở khu vực doanh FDI đạt 9,5 triệu tấn (tương đương 60,0%), của khối doanh nghiệp trong nước đạt 6,3 triệu tấn (nghiệp FDI và khu vực doanh nghiệp trong nước, cụ thể: năm 2015, sản lượng TACN của các doanh nghiệp tương đương 40,0%). Đến năm 2020, sản lượng của các doanh nghiệp FDI đạt 12,1 triệu tấn (tương đương 59,8%), của các doanh nghiệp trong nước đạt 8,2 triệu tấn (tương đương 40,2%).

Bảng 3. Sản lượng TACN giai đoạn 2015 - 2020 theo loại hình doanh nghiệp (1.000 tấn)

Loại hình doanh nghiệp

2015

2016

2017

2018

2019

2020

Sản lượng

Tỷ lệ (%)

Sản lượng

Tỷ lệ (%)

Sản lượng

Tỷ lệ (%)

Sản lượng

Tỷ lệ (%)

Sản lượng

Tỷ lệ (%)

Sản lượng

Tỷ lệ (%)

FDI

9,507

60,0

12,391

61,5

11,472

59,2

11,245

59,8

11,618

61,3

12,143

59,8

Trong nước

6,339

40,0

7,761

38,5

7,908

40,8

7,568

40,2

7,324

38,7

8,151

40,2

Tổng số

15,846

100

20,152

100

19,381

100

18,813

100

18,942

100

20,295

100

Nguồn: Cục Chăn nuôi (2021)

Cơ cấu sản lượng TACN theo đối tượng vật nuôi đang có sự thay đổi giữa thức ăn cho lợn và thức ăn cho gia cầm, cụ thể: Trong giai đoạn 2015 - 2017, sản lượng TACN cho lợn luôn chiếm trên 60% (63,6 - 67,3%), cho gia cầm ở mức trên 30% (30,6 - 33,5%) so với tổng sản lượng TACN các loại. Đến giai đoạn 2018 - 2020, cơ cấu có sự thay đổi theo hướng giảm TACN cho lợn, tăng TACN cho gia cầm (năm 2020, TACN cho lợn chiếm 43,8%, TACN cho gia cầm chiếm 52,7%), nguyên nhân  do sau khi dịch tả lợn châu Phi bùng phát, người chăn nuôi đã chuyển hướng sang chăn nuôi gia cầm (Cục Chăn nuôi, 2021).

3.3.2. Tình hình sử dụng thức ăn và chế độ nuôi dưỡng cho lợn nái ngoại

            Các trang trại chăn nuôi lợn nái ngoại tại Việt Nam đều sử dụng thức ăn hỗn hợp thương mại do các công ty thức ăn cung cấp, chỉ một số ít trang trại tự phối trộn thức ăn (Trần Thị Bích Ngọc, 2019).

Lợn hậu bị từ sau độ tuổi thành thục được các trang trại cho ăn hạn chế nhằm đảm bảo tốc độ sinh trưởng của lợn đạt không quá cao, tránh cho lợn quá béo trước khi phối giống. Vì tốc độ sinh trưởng cao cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến thể chất của lợn nái hậu bị và từ đó dẫn đển tỷ lệ loại thải cao ở lợn nái (Foxcroft và Aherne, 2001). Lượng thức ăn ăn vào hàng ngày của lợn nái hậu bị ở cả 3 miền Bắc, Trung và Nam đạt trung bình từ 2,30 đến 2,43 kg/con/ngày và 100% trang trại điều tra sử dụng thức ăn cho lợn thịt để nuôi lợn nái hậu bị ở giai đoạn nhỏ hơn 60 kg, sang giai đoạn trên 60kg đến phối giống có khá nhiều trang trại sử dụng thức ăn riêng cho lợn nái hậu bị (Trần Thị Bích Ngọc, 2019). Khác với kết quả điều tra này, Trần Quốc Việt và cs. (2013) cho biết khoảng 38,46% trang trại điều tra cho lợn nái hậu bị ăn hạn chế bắt đầu từ khi chúng đạt khối lượng từ 90 kg đến 100 kg trở lên, với mức ăn từ 1,6 kg đến 2,3 kg/con/ngày.

            Thức ăn hỗn hợp dùng cho lợn nái hậu bị ở các trang trại cả 3 miền Bắc, Trung và Nam có hàm lượng protein thô trong phẩu phần là 16,81% ở giai đoạn 30 - 60 kg và 15,14% ở giai đoạn 60 kg đến phối giống; hàm lượng lysine tổng số là 0,92% ở giai đoạn 30 - 60 kg và 0,78% ở giai đoạn 60 kg đến phối giống (Trần Thị Bích Ngọc, 2019). Khuyến cáo của Đan Mạch (Danish Pig Production, 2008) cho thấy hàm lượng protein thô trong khẩu phần là 15,0% ở giai đoạn 30 - 60kg và 14,5% ở giai đoạn 60 kg đến phối giống và tỷ lệ lysine tiêu hóa/năng lượng trao đổi ở giai đoạn 30 - 60kg và giai đoạn 60 kg đến phối giống tương ứng là 2,56 và 2,31g/Mcal. Nhìn chung, hàm lượng protein trong thức ăn hỗn hợp ở các trang trại điều tra cao hơn (trên 10%) so với khuyến cáo của Danish Pig Production (2008), tuy nhiên tỷ lệ lysine TH/ME lại thấp hơn (trên dưới 10%).

            Kết quả điều tra của Trần Thị Bích Ngọc (2019), đối với chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái mang thai cho biết, các trang trại điều tra thường chăm sóc lợn nái mang thai từ 2 đến 4 giai đoạn nuôi. Các trang trại ở miền Bắc có thể chia 3 hoặc 4 giai đoạn chăm sóc khác nhau, còn ở miền Trung và miền Nam phần lớn (75 - 80%) chia làm 3 giai đoạn. Thời gian nuôi lợn nái mang thai ở giai đoạn 1 và 2 ở nhóm trang trại nuôi dưỡng theo 2 giai đoạn tại miền Trung và Nam là tương tự như nhau, tương ứng 92,0 - 91,75 ngày và 21,75 - 22,25 ngày. Tuy nhiên, thời gian phân chia từng giai đoạn nuôi ở nhóm trang trại nuôi theo 3 và 4 giai đoạn là khác nhau giữa 3 miền Bắc, Trung và Nam. Như vậy, cách thức nuôi dưỡng lợn nái mang thai là khác nhau giữa các vùng miền. Lượng thức ăn ăn vào trung bình cho cả giai đoạn mang thai cao nhất ở nhóm chăn nuôi theo 4 giai đoạn (2,38 kg/con/ngày), tiếp đến theo 3 giai đoạn (2,29 kg/con/ngày) và thấp nhất ở nhóm trang trại nuôi theo 2 giai đoạn (2,09 kg/con/ngày). NRC (1998) khuyến cáo lượng thức ăn ăn vào trung bình cho cả giai đoạn lợn mang thai khoảng 1,80-1,96 kg/con/ngày, trong khi đó NRC (2012) khuyến cáo giai đoạn mang thai đầu (<90 ngày) nên ăn khoảng 2,05 - 2,21 kg/con/ngày và giai đoạn mang thai sau nên ăn 2,45 - 2,61 kg/con/ngày. Thức ăn hỗn hợp lợn mang thai ở các trang trại điều tra có hàm lượng protein thô và tỷ lệ lysine tiêu hóa/năng lượng trao đổi tương ứng là 13,81%, 1,95g/Mcal, kết quả này cao hơn so với khuyến cáo NRC (1998 và 2012), Danish Pig Production (2008) và Danbred (2010).

Đối với chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái nuôi con, theo kết quả điều tra của Trần Thị Bích Ngọc (2019) cho biết, các trang trại ở ba vùng (Bắc, Trung và Nam) đều cho lợn nái nuôi con con ăn cả ban ngày và ban đêm, gần 3 bữa/ngày. Tất cả các trang trại điều tra đều cho lợn nái đẻ ăn tự do và lượng thức ăn ăn vào trung bình là 4,56 kg/con/ngày. Hàm lượng protein thô và tỷ lệ lysine tiêu hóa/năng lượng trao đổi cho lợn nái đẻ, tương ứng là 16,39% và 2,32g/Mcal, kết quả này nằm trong khoảng khuyến cáo của NRC (1998 và 2012), và cao hơn so với khuyến cáo của Danish Pig Production (2008) và Danbred (2010).

            Từ kết quả trên có thể thấy hàm lượng protein thô và tỷ lệ lysine tiêu hóa/năng lượng trao đổi của lợn nái ngoại giai đoạn hậu bị, mang thai và nuôi con đối với các trang trại chăn nuôi lợn nái ngoại tại Việt Nam hoặc cao hơn hoặc thấp hơn so với các khuyến cáo của NRC (1998 và 2012), Danish Pig Production (2008) và Danbred (2010), chính vì vậy gây ra hoặc lãng phí thức ăn hoặc không đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng cho vật nuôi, dẫn đến năng suẩt sinh sản thấp hơn nhiều so với tiềm năng di truyền của chúng (số lợn con cai sữa/nái/năm trung bình đạt 22,63 con). Lượng thức ăn ăn vào của lợn nái nuôi con là 4,56kg/con/ngày, thấp hơn so với khuyến cáo của NRC (1998 và 2012), điều này sẽ làm cho khối lượng lợn con cai sữa thấp và hao hụt khối lượng của lợn mẹ tăng, dẫn đến kéo dài thời gian động dục trở lại.

3.4. Phương thức chăn nuôi

            Ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam đang chuyển dịch từ chăn nuôi nhỏ lẻ, quy mô nhỏ, phân tán sang chăn nuôi trang trại, tập trung và hình thành chuỗi giá trị chăn nuôi. Năm 2011, cả nước có khoảng 4,13 triệu nong hộ chăn nuôi lợn, đến năm 2021 cả nước chỉ còn dưới 2 triệu nông hộ chăn nuôi lợn. Các doanh nghiệp chăn nuôi lớn trong nước (tiêu biểu như Tân Long, Dabaco, Masan, Trường Hải, Hòa Phát…) và nước ngoài (C.P, Japfa comfeed, Newhope, CJ, Emivest, Cargill…) đang xây dựng và từng bước hình thành hệ thống trang trại liên kết chuỗi, kiểm soát dịch bệnh, đạt giá trị kinh tế cao (Cục Chăn nuôi, 2021).

Chăn nuôi lợn theo hình thức gia công gồm có chăn nuôi trang trại gia công và chăn nuôi nông hộ gia công. Chăn nuôi gia công cho các công ty, doanh nghiệp là hình thức người chăn nuôi do công ty, doanh nghiệp cung cấp và hỗ trợ về con giống, thức ăn, thuốc thú y, quy trình kỹ thuật về chăm sóc, chuồng trại…. Đặc biệt tạo sự hài hòa về lợi ích cho cả hai phía, trường hợp rủi ro cũng được các bên chia sẻ, cộng đồng trách nhiệm;

            Ngoài ra còn có các phương thức chăn nuôi lợn đảm bảo an toàn thực phẩm như theo quy trình VietGAHP, an toàn sinh học, an toàn dịch bệnh đều có xu hướng ngày càng tăng so với các năm trước.

3.5. Một số vấn đề tồn tại cần nghiên cứu nhằm nâng cao năng suất sinh sản lợn nái

            - Ngành chăn nuôi lợn đang phát triển mạnh về cả số lượng lẫn quy mô. Tuy nhiên, việc chăn nuôi nhỏ lẻ trong nông hộ và nuôi tập trung thiếu quy hoạch, nhất là vùng dân cư đông đúc đã gây ra ô nhiễm môi trường.

            - Lợn nái được chăn nuôi vào mùa nóng thường có khả năng sinh sản và năng xuất kém hơn các mùa khác trong năm. Lợn nái thường bị stress, thời gian lên giống trở lại lâu hơn, tỷ lệ đậu giảm … trại thường gặp các vấn đề về sinh sản nhiều hơn các mùa khác trong năm.

            - Sản lượng thức ăn công nghiệp cho gia súc đã đáp ứng nhu cầu trong nước. Tuy nhiên giá thành thức ăn còn cao và phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu, thiếu nghiêm trọng các nguyên liệu dùng làm thức ăn cho lợn. Do đó, cần phát triển các vùng sản xuất nguyên liệu thức ăn trong nước hoặc tận dụng các phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn để giảm giá thành thức ăn từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế.

- Tình hình sử dụng thức ăn trong chăn nuôi lợn nái của các trang trại là khác nhau và có thể cao hoặc thấp hơn các khuyến cáo (đặc biệt là tỷ lệ lysine tiêu hóa/năng lượng trao đổi) của NRC (1998 và 2012), Danish Pig Production (2008) và Danbred (2010) nên dẫn đến năng suất sinh sản và hiệu quả kinh tế chưa cao. Cần có nghiên cứu để khuyến cáo phù hợp cho các trang trại về thành phần dinh dưỡng thức ăn cho lợn nái nuôi ở từng giai đoạn phù hợp.

            - Nghiên cứu về khả năng thu nhận thức ăn, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng. Các vấn đề như: tăng số con/lứa, khối lượng lợn con sơ sinh, khối lượng lợn con cai sữa, số con cai sữa, số lứa đẻ/năm của lợn mẹ…từ đo mới làm tăng năng suất của lợn mẹ.

- Hiện nay Việt Nam đã nhập nhiều giống lợn nái và tinh lợn ngoại có chất lượng cao từ các nước Pháp, Mỹ, Canada, Thái Lan, Đài Loan, Đan Mạch và đồng thời cũng lai tạo ra các dòng, giống mới có năng suất tương đương giống ngoại nhập. Đây là các giống lợn ngoại có năng suất cao được nhập về, tuy nhiên chưa có nhiều kết quả nghiên cứu chế độ nuôi dưỡng phù hợp với điều kiện chăn nuôi ở nước ta. Do đó cần nghiên cứu về nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái ngoại năng suất cao này.

             4. Kết luận

(1). Chăn nuôi trang trại đã phát triển trong nhiều năm gần đây, tuy nhiên số hộ chăn nuôi nhỏ lẻ cũng đang tồn tại với tỷ lệ lớn. Đây là nguyên nhân gây khó khăn trong việc kiểm soát tình hình dịch bệnh và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi.

(2). Đàn lợn nái sản xuất hiện nay đối với lợn ngoại chủ yếu là các dòng lai hoặc dòng tổng hợp được kết hợp giữa các nguồn khác nhau trong cùng giống hay lai khác giống, tiềm năng di truyền cao.

(3). Thức ăn chăn nuôi nước ta vẫn phải nhập khẩu 70 - 80% nguyên liệu từ nước ngoài. Nguyên nhân là do các loại nguyên liệu sản xuất thức ăn như ngũ cốc, đậu tương, khô dầu các loại, phụ gia... hiện Việt Nam sản xuất không đủ hoặc do giá thành quá cao so với sản phẩm nhập khẩu cùng loại.

(4). Cần có các nghiên cứu về nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn nái (đặc biệt là nái ngoại) như đảm bảo môi trường chăn nuôi, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, khuyến cáo các tỷ lệ dinh dưỡng phù hợp từng giai đoạn nuôi, nâng cao năng suất nguồn nguyên liệu thức ăn trong nước, tăng cường phụ phẩm nông nghiệp trong khẩu phần ăn, giảm giá thành thức ăn chăn nuôi.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Cục Chăn nuôi. 2019. Báo cáo hiện trạng sản xuất chăn nuôi lợn và định hướng, giải pháp phát triển trong thời gian tới.

Cục Chăn nuôi. 2019. Tình hình chăn nuôi lợn, gia cầm và định hướng phát triển.

Cục Chăn nuôi. 2021. Thị trường thức ăn chăn nuôi và các biện pháp kiểm soát.

Danbred International. 2010. www.danbred.com

Danish Pig Production, 2008. Nutrient standards. www.danishpigproduction.dk.

Foxcroft, G. and Aherne, F. 2001. Rethinking Management of the Replacement Gilt. Advances in Pork Production. Volume 12, 2001. from http://citeseerx.ist.psu.edu/viewdoc/summary? doi=10.1.1.611.9109.

NRC. 1998. Nutrient Requirements of Swine. Tenth Revised Edition. Washington, DC: The National Academies Press, 1998.

NRC. 2012. Nutrient Requirements of Swine. Eleventh Revised Edition. Washington, DC: The National Academies Press, 2012.

Phạm Duy Phẩm. 2016. Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu lai tạo một số dòng lợn chuyên hóa năng suất cao phù hợp chăn nuôi công nghiệp khu vực phía bắc”. Đề tài Bộ Khoa học và Công nghệ 2012 – 2015.

Tổng cục thống kê. 2015. Thống kê chăn nuôi Việt Nam 01/10/2016. http://channuoivietnam.com/thong-ke-chan-nuoi/tk-chan-nuoi/.

Tổng cục thống kê. 2016. Thống kê chăn nuôi Việt Nam 01/10/2017. http://channuoivietnam.com/thong-ke-chan-nuoi/tk-chan-nuoi/.

Tổng cục thống kê. 2017. Thống kê chăn nuôi Việt Nam 01/10/2018. http://channuoivietnam.com/thong-ke-chan-nuoi/tk-chan-nuoi/.

Tổng cục thống kê. 2018. Thống kê chăn nuôi Việt Nam 01/10/2019. http://channuoivietnam.com/thong-ke-chan-nuoi/tk-chan-nuoi/.

Tổng cục thống kê. 2019. Thống kê chăn nuôi Việt Nam 01/01/2020. http://channuoivietnam.com/thong-ke-chan-nuoi/tk-chan-nuoi/

Tổng cục thống kê. 2020. Thống kê chăn nuôi Việt Nam 01/01/2021. http://channuoivietnam.com/thong-ke-chan-nuoi/tk-chan-nuoi/.

Trần Quốc Việt, Trần Thị Bích Ngọc, Lê Văn Huyên, Trần Việt Phương, sầm Văn Hải, Ninh Thị Huyền, Nguyễn Thị Hồng, 2013. Thực trạng về giống, thức ăn, chế độ nuôi dưỡng và năng suất sinh sản của lợn nái nuôi trong điều kiện trang trại và nông hộ ở một số tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng. Trang 57-64. Tạp chí Nông nghiệp và PTNT. Số 15-2013.

Trần Thị Bích Ngọc. 2019. Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu quy trình nuôi lợn sinh sản đạt năng suất cao”. Đề tài cấp Bộ giai đoạn 2016-2018.

Chiều ngày 30/12/2022 Ban giám hiệu cùng khoa Nông nghiệp và Môi trường làm việc với GS.TSKH Vương Khả Cúc chuyên gia phát triển ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp về phát triển trung tâm Nông nghiệp công nghệ cao tại Trường Đại học Hà Tĩnh.

 Untitled1.jpg

Phát biểu tại cuộc gặp, TS.Đoàn Hoài Sơn hiệu trưởng nhà trường chia sẽ những hoạt động của nhà trường trong sự phát triển chung của tỉnh và những thành tích trường đạt được trong thời gia qua, định hướng phát triển trong thời gia tới. Bên cạnh đấy, hiệu trưởng cũng mong muốn GS.TSKH Vương Khả Cúc với tư cách là một người con Hà Tĩnh và là nhà khoa học đã có nhiều đóng góp cho xã hội giúp đỡ, tìm kiếm và phát triển trường nói chung và xây dựng trung tâm nông nghiệp của trường theo đề án phát triển trường trong thời gian tới.

 Untitled2.jpg

GS.TSKH Vương Khả Cúc chia sẻ về nông nghiệp công nghệ cao và nông nghiệp 4.0, sự lựa chọn và áp dụng trong việc phát triển nông nghiệp hiên nay ở nước ta. GS giới thiệu một số công nghệ mà GS đã nghiên cứu và ứng dụng thành công trong nông nghiệp như (công nghệ bọc hạt đạm giảm 30% lượng bón trong nông nghiệp; quy trình ứng dụng chế phẩm vi sinh trong xử lý rơm, rạ; xử lý môi trường nuôi tôm…). GS.TSKH Vương Khả Cúc chia sẻ kinh nghiệm về xây dựng trung tâm công nghệ cao trong nông nghiệp, định hướng phát triển, nhu cầu xã hội và phục vụ nghiên cứu, đào tạo trong trường Đại học.

 Tại buổi làm việc, cũng được nghe nhiều ý kiến bày tỏ mong muốn, định hướng phát triển của cán bộ, giảng viên khoa Nông nghiệp và Môi trường cùng nhiều cán bộ giảng viên quan tâm đến phát triển Nông nghiệp công nghệ cao tại Trường Đại học Hà Tĩnh.

  Cây cam (Citrus.Sinensis) thuộc họ cam, quýt (Rutacee) là cây ăn quả lâu năm có thể trồng rộng khắp ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Cam là cây ăn quả cung cấp nhiều dinh dưỡng rất tốt cho sức khỏe con người; Khi đời sống ngày càng được nâng cao thì nhu cầu cam ngày càng nhiều. Cây cam có thể mang lại giá trị kinh tế cao (có thể hàng tỷ đồng/ha) và nghề trồng cam đang có nhiều tiềm năng, cơ hội để phát triển.

Ở nước ta, cây cam đã được trồng từ lâu đời. Những thập niên 70, 80 thế kỷ trước, cam được trồng nhiều ở các Nông trường, những năm gần đây đang được trồng ồ ạt ở các trang trại tư nhân khắp cả nước. Tuy nhiên, cây cam là cây tương đối khó tính, hầu hết các trang trại trồng cam hiện nay đạt năng suất, chất lượng còn rất thấp, chu kỳ kinh doanh ngắn khoảng 10 năm (nếu canh tác đúng KT có thể 50 năm), mặc dù các chủ đầu tư vốn khá cao nhưng hiệu quả kinh tế chưa tương xứng.

Năng suất, chất lượng và hiệu quả trồng cam đang luôn là bài toán khó trong các trang trại cam; vấn đề này là thách thức lớn và là cơ hội vẫn còn nguyên giá trị cho nghề trồng cam.

Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi đã tập trung nghiên cứu tìm ra những nguyên nhân tồn tại hạn chế; để đưa ra các giải pháp khắc phục nhằm tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả trồng cam.

1. Những nguyên nhân tồn tại cơ bản

Một là chưa chú trọng đến việc làm đất;

Hai là ươm giống và mật độ trồng chưa hợp lý;

Ba là vấn đề tưới nước;

Bốn là việc bón phân;

Năm là phòng trừ sâu, bệnh và cỏ dại

Sáu là chi phí lao động cao

2. Giải pháp khắc phục

Để cây cam sinh trưởng phát triển tốt thì cây cam phải có bộ rễ khỏe nhất. Vì thế giải pháp chủ yếu là giải quyết một cách đồng bộ để tạo ra vùng dinh dưỡng đất tốt nhất cho bộ rễ cam.

Ngoài các yếu tố về pH, nước, dinh dưỡng khoáng thì vấn đề không khí trong đất là không thể thiếu. Tục ngữ trong nông nghiệp đã có câu “Hòn đất nỏ bằng giỏ phân” hay “Thứ nhất cày ải, thứ nhì vãi phân” điều đó đã nói lên việc canh tác cho đất tơi ải là rất cần thiết cho các loại cây trồng nói chung và với cây cam nói riêng (cây cam có bộ rễ đặc thù riêng).

      Giải quyết vấn đề trên nhất thiết phải làm đất kỹ, đồng thời điều chỉnh biện pháp chăm sóc (xới xáo,bón phân, tưới nước…).

 Giải pháp thứ nhất: Làm đất kỹ và lên luống cao:

            Đất trồng cam phải được cày bừa kỹ đảm bảo yêu cầu: Đủ  độ sâu trên 40 cm, (phải phá được tầng đế cày trên các loại đất đã được canh tác nhiều năm) để bộ rễ cam có điều kiện ăn sâu. Đủ độ tơi xốp để đảm bảo thành phần cơ lý đất thích hợp cho bộ rễ hoạt động tốt. Cần cày, bừa khi đất có đủ độ ẩm thích hợp, dùng máy cày công suất lớn thực hiện mỗi khâu tối thiểu 02 lần

           Cày bừa xong, lên luống từng hàng cam theo mật độ, khoảng cách, (mật độ 3mx 4m thì sẽ lên từng luống rộng 3,5m và rãnh rộng 0,5m). Dùng máy vạch hàng hoặc dùng máy múc từng rãnh đưa đất lên luống. Các rãnh này là nơi tiêu úng nước vào mùa mưa và tưới nước vào mùa khô hạn. Tùy từng loại đất mà lên luống theo độ cao phù hợp:

           Cày bừa kỹ và luống cao là giải pháp quan trọng đầu tiên, có như vậy mới tạo ra được vùng đất có độ tơi xốp được duy trì lâu dài, bộ rễ cam có thể hoạt động ở độ sâu dưới 1m và rộng nhất (VD: mật độ 3m x 4m thì vùng đất dinh dưỡng của mỗi cây cam có thể tích là 12 m3 trở lên).

           Hố trồng cam được đào trên luống theo kích cỡ phù hợp để lót phân hữu cơ và đáy hố phải nông hơn đáy rãnh từ 0,2m- 0,3m.

           Với đất đồi hoặc đất khó có nguồn nước tưới cần đào các hố để chứa nước tích trữ nước mưa. Giữa các cây trên luống tiến hành đào hố chứa nước phải sâu hơn đáy rãnh khoảng 0,3m- 0,5m để có thể hứng nước vào mùa mưa.           

Giải pháp thứ hai: Tưới và duy trì độ ẩm đất:

           Đất có độ ẩm hợp lý là đất có tỷ lệ cân đối của các thành phần trong đất như chất rắn (sét, cát, keo hữu cơ), không khí, nước. Các thành phần này được cân đối thì phải giữ cho đất luôn luôn được tơi xốp. Vì vậy, ngoài việc làm đất và lên luống cao thì cách tưới cho cam để đất không bị nén chặt là rất cần thiết.

           Tùy từng điều kiện để tưới nước cho cam, có thể bơm tưới vào hố có sẵn hoặc tưới vào rãnh hai bên luống cam. Tưới bằng cách này đất không bị nén chặt, nước được thẩm thấu đi lên luống tạo điều kiện thuận lợi cho bộ rễ phát triển sâu và rộng.

           Ngoài ra, cần che phủ lên luống cam để giữ ẩm và hạn chế cỏ dại bằng các loại rơm, rạ, vỏ trấu, lá mía hoặc màng nilon.

Giải pháp thứ ba: Bón phân cân đối và hợp lý

          Theo số liệu các nhà khoa học thống kê trung bình 1 tấn cam thì cây sẽ cần khoảng 3,2kg K2O; 0,5kg P2O5; 1,7kg N từ đất. Việc cân đối NPK, ngoài tác dụng làm tăng năng suất còn đảm bảo chất lượng cam (tăng độ ngọt và giảm độ chua).

Cách bón phân để  cho cây sử dụng hiệu quả như sau:

- Bón lót: Phân hữu cơ tối thiểu 20 kg/hố và phân N, P, K theo liều lượng ở bảng 2. Các loại phân trên trộn thêm đất mặt tơi ải cho vào hố trước khi trồng.

- Bón thúc: Phải khoan, đào các hố quanh tán cây rồi trộn các loại phân hữu cơ, vô cơ cho vào hố để bón thúc cho cam. Tùy theo tuổi cây để đào số hố và độ sâu rộng khác nhau. Các hố dùng để bón thúc cho cam cũng là các hố dùng để bơm tưới cho cam khi cần thiết. Bằng cách bón thúc này góp phần quan trọng tạo cho đất cam luôn tơi xốp.

Bón phân cho cam theo biện pháp khoan lỗ sâu theo tán cây. Bằng cách này phân bón không bị lãng phí do bị khoáng hóa bốc hơi khi gặp nắng hoặc bị rửa trôi khi gặp mưa; Đồng thời bón sâu như vậy không bị cạnh tranh bởi lớp cỏ trên đất mặt.

Ngoài ra: Cây cam hàng năm cần được bón phân và lượng phân thay đổi theo tuổi cây và lượng phân bón được khuyến cáo cho cam như ở bảng 1.

Bảng 1: Lượng phân bón cho cam theo tuổi cây

 

Ghi chú: Tài liệu của GS. Trần Thế Tục


- Thời kỳ cây con: bón lân và kali một lần vào cuối mùa mưa, phân đạm chia thành 3-4 lần để bón hoặc hoà nước tưới gốc cây.

          - Cây trên 3 tuổi và bắt đầu thu hoạch quả: Phân chia là 3 lần để bón: trước ra hoa, sau khi đậu quả và sau thu hoạch. Chia đều mỗi lần bón 1/3 lượng phân.

Phân K chia làm 2 lần để bón: bón ½ lượng K sau khi đậu quả và ½ lượng còn lại bón trước khi thu hoạch 1-2 tháng.

Phân P: Bón toàn bộ sau khi thu hoạch quả cùng với phân hữu cơ.

Dựa vào đặc điểm sinh lý và ra quả của cam quýt có thể chia thời gian sinh trưởng của cây thành 2 thời kỳ để bón phân.

Thời kỳ cam quýt được 7 tuổi: Thời kỳ này cây phát triển thân, cành là chính. Vào những năm cuối thời kỳ cây đã cho quả nhưng chỉ là những mùa quả đầu tiên, năng suất quả của cây tăng dần qua các năm. Ở thời kỳ này bón phân cho cam quýt với lượng như bảng 2.

Bảng 2: Bón phân cho cam quýt thời kỳ cây dưới 7 tuổi

 

Thời kỳ cam cho quả ổn định (sau năm thứ 7). Ở thời kỳ này năng suất của cam đi dần vào ổn định. Những thay đổi vể năng suất chịu tác động chủ yếu của các yếu tố bên ngoài (khí hậu, sâu bệnh, kỹ thuật chăm bón, v.v…).

Ở thời kỳ này, lượng phân bón được thay đổi tuỳ thuộc vào năng suất của cam quýt. Lượng phân bón được khuyến nghị như ở bảng 9.

Bảng 3: Bón phân theo sản lượng cam quýt

 

          - Bón sau thu hoạch, bón phục sức cho cây, giúp cây phân hóa mầm hoa: bón vôi + toàn bộ phân chuồng + toàn bộ phân lân + 1/3 phân đạm + 1/3 phân kali.

          - Bón trước trổ hoa 6 tuần: 1/3 lượng đạm + 1/3 lượng kali.
          - Bón lúc quả lớn bằng ngón tay cái: 1/3 lượng đạm + 1/3 lượng kali.

Tuỳ theo đặc điểm đất đai ở từng vùng có thể tăng giảm lượng phân bón cho thích hợp. Cần chia phân ra bón thành nhiều lần để chống rửa trôi mất phân. Khi bón nhớ đào hố hoặc cuốc rãnh nông luân phiên chung quanh tán cây. Hàng năm nên bón bổ sung phân vi lượng cho cam quýt như Zn, Mg, Mn trong trường hợp bón ít phân chuồng.

Nhằm giảm hiện tượng rụng quả, cần dành 2/3 lượng phân để bón trước khi cây ra hoa. Thực hiện việc bón đón hoa kết hợp với phun phân bón là góp phần tích cực hạn chế rụng quả sau này.

Phân chuồng là loại phân tốt nhất cho cây cam-quýt, tuy nhiên phân chuồng tươi lại có nhiều vi sinh và mầm bệnh gây hại cho cây trồng. Để khắc phục điều này người ta thường dùng các chế phẩm để ủ nhằm tiêu độc, khử trùng cũng như tiền phân hủy để cây dễ hấp thụ hơn.

Giải pháp thứ tư: Mật độ trồng và ươm cây giống:

Trồng cam với mật độ dày hợp lý, trồng dày cây giao tán nhanh để chủ động theo thời cơ của thị trường nhanh. Tùy theo giống cam và theo điều kiện có thể trồng với mật độ từ 1000 – 2000 cây/ha (tương ứng khoảng cách cây 3,0m x 3,3m hoặc 2,5mx 2m).

Ươm cây giống:

Giải pháp ươm cây vào bầu lớn (mỗi bầu khoảng 10 - 15dm3) thay cho thời kỳ kiến thiết cơ bản vườn cây từ 1-2 năm nhằm mục đích:

- Tiết kiệm các chi phí tưới nước, bón phân, làm cỏ và các chăm sóc khác khi cam còn nhỏ ngoài lô; không phải trồng dặm do mất khoảng ngoài lô cam;

- Do được chăm sóc đặc biệt trong phạm vi hẹp (vườn ươm chiếm khoảng 5,0% diện tích lô cam) nên  cây cam ít bị chết yểu (do hạn, sâu bệnh và các tác động cơ giới khác), cây cam sinh trưởng khỏe mạnh liên tục trong vườn ươm. Khi đem bầu cam ra trồng ở lô chính tỉ lệ sống cao có thể đạt 100%  (dù điều kiện thời tiết khác nhau).

- Diện tích đất dự kiến trồng cam vẫn trồng thuần bằng các cây trồng khác trong 1 đến 2 năm (khi cam đang trong vườn ươm); còn có thời gian để chủ động quy hoạch, thiết kế lô cam lâu dài đúng kế hoạch đặt ra.

Giải pháp thứ năm: Chăm sóc cam bằng cơ giới:

Ngoài ra, việc xới xáo làm cỏ trên tầng đất mặt là cần thiết nếu cỏ phát sinh. Để chủ động làm cỏ kịp thời và tiết kiệm chi phí thì cần chủ động dùng máy mini bánh xích (08 HP) áp dụng chăm sóc cho cam. Công suất 01 máy do 01 người điều khiển có thể đạt 03-04 ha/ ngày./.

Untitled.jpg

Sinh viên tiêu biểu

 Copyright © 2026 Khoa Nông nghiệp - Môi trường  Rights Reserved.