^Back To Top

Rừng ngập mặn là một trong những hệ sinh thái đặc trưng của vùng ven biển nhiệt đới và cận nhiệt đới, phân bố tại khu vực chuyển tiếp giữa môi trường đất liền và biển. Với khả năng thích nghi cao đối với điều kiện ngập nước theo thủy triều, độ mặn lớn và nền đất bùn lầy, rừng ngập mặn được đánh giá là hệ sinh thái có năng suất sinh học cao, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, duy trì đa dạng sinh học và phát triển kinh tế - xã hội. Ở Việt Nam, rừng ngập mặn phân bố dọc theo các tỉnh ven biển từ Bắc vào Nam, trong đó Hà Tĩnh là một địa phương có hệ sinh thái rừng ngập mặn mang nhiều nét đặc trưng của khu vực Bắc Trung Bộ.

Hà Tĩnh có đường bờ biển dài khoảng 137 km, với hệ thống sông ngòi dày đặc đổ ra biển như sông Lam, sông Nghèn, sông Rác và sông Trí. Sự tác động qua lại giữa nước ngọt từ các con sông và nước mặn từ biển đã tạo nên các vùng cửa sông, bãi triều và đất ngập nước ven biển, là điều kiện thuận lợi cho sự hình thành và phát triển của rừng ngập mặn. Hiện nay, rừng ngập mặn của tỉnh phân bố chủ yếu ở phía trong cách cửa sông 100- 300m. Ví dụ như rừng Bần chua ở trong cửa sông, phân bố dọc theo bờ hữu sông Lam từ cửa Hội trở lên cầu Bến Thủy. Dưới tán Bần chua là thảm Ô rô gai dày đặc, thỉnh thoảng có vài đám Cói hoặc xen lẫn Ô rô gai. Trên nền đất ngập triều cao có Ráng đại, Ngọc nữ biển, Giá Mướp sát. Dọc một số sông nhỏ như sông Nghèn, sông Rào, sông Kinh, nước triều lấn sâu vào đất liền nên cũng có thảm thực vật ngập mặn; phía trong cửa sông có Mắm biển, Đước vòi, Sú, Vẹt dù; đi sâu vào các bãi sông nước lợ có quần xã Bần chua ưu thế cùng với các loài Ô rô gai ở tầng thấp. Ven bờ hoặc một số bãi cao có Cóc kèn, Cui biển, Giá, Vẹt dù, Mướp sát... phát triển mạnh mẽ [4, 5].

Hệ sinh thái rừng ngập mặn tỉnh Hà Tĩnh khá phong phú, có nhiều loại động thực vật thuỷ sinh có giá trị kinh tế cao, tập trung phần lớn ở các khu vực cửa sông lớn như Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhượng và Cửa Khẩu. Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Tú (2014) đã xác định được 22 loài thực vật ngập mặn (TVNM) ở Hà Tĩnh, ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) chỉ có 1 họ và 1 loài (chiếm 5,6% tổng số họ và 4,5% tổng số loài); ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) chiếm ưu thế với 17 họ, 21 chi và 21 loài (chiếm 94,4% tổng số họ và 95,5% tổng số loài). Trong ngành Ngọc lan, số lượng các taxon trong lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) chiến ưu thế với 15 họ, 18 chi và 18 loài; lớp Loa kèn (Liliopsida) ít hơn với 2 họ, 3 chi và 3 loài. Trong số 22 loài TVNM ở Hà Tĩnh, có 9 loài cây ngập mặn chính thức (MS) (chiếm 40,9% tổng số loài) và 13 loài cây tham gia ngập mặn (MAS) (chiếm 59,1% tổng số loài) [9]. Theo Phan Nguyên Hồng (1999) thì ở Việt Nam có 34 loài cây ngập mặn thực sự và trên 40 loài cây tham gia vào rừng ngập mặn [5]. Như vậy, số loài cây ngập mặn thực sự ở Hà Tĩnh chỉ chiếm 26,5% tổng số loài cây ngập mặn thực sự ở Việt Nam. Các loài cây tham gia và di cư vào vùng rừng ngập mặn tương đối nhiều, thường gặp ở những nơi tiếp giáp với rừng ngập mặn, gần mép nước, ven bờ.

Dựa theo tiêu chuẩn đánh giá và quan trắc rừng ngập mặn của Phạm Nhật và cộng sự (2003) [6] và FAO (2007) [2], tính đa dạng của rừng ngập mặn thấp khi rừng có từ 1- 3 loài, trên 10 loài tính đa dạng của rừng cao, thì TVNM ở Hà Tĩnh có độ đa dạng loài cao. Trong đó, 6 loài TVNM chủ yếu là Đước vòi (Rhizophora stylosa Griff.), Bần chua (Sonneratia caseolaris (L.) Engl.), Mắm biển (Avicennia marina (Forssk.) Vierh.), Ô rô gai (Acanthus ilicifolius (L.)), Trang (Kandelia candel (L.) Druce), Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza (L.) Lam.)... và các loài thực vật ngập mặn tham gia như Tra hoa vàng (Hibicus tiliaceus L.), Ngọc nữ biển (Clerodendrum inerme (L.) Gaertn.)…

Hình 1. Rừng ngập nặm khu vực cửa Sót, Hà Tĩnh [10]

Về mặt sinh thái, rừng ngập mặn được xem là “lá chắn xanh” bảo vệ vùng ven biển Hà Tĩnh trước tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu. Hệ thống rễ dày đặc của cây ngập mặn có khả năng giữ phù sa, làm giảm tốc độ dòng chảy, giảm năng lượng sóng và hạn chế xói lở bờ biển. Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng các khu vực có rừng ngập mặn phát triển thường chịu thiệt hại ít hơn khi xảy ra bão, triều cường hoặc nước biển dâng. Đối với Hà Tĩnh – địa phương thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới – vai trò phòng hộ của rừng ngập mặn càng trở nên đặc biệt quan trọng.

Ngoài chức năng bảo vệ bờ biển, rừng ngập mặn còn là nơi cư trú, sinh sản và kiếm ăn của nhiều loài sinh vật thủy sinh. Đây là môi trường sống của các loài cá, tôm, cua, nhuyễn thể, chim nước và nhiều nhóm vi sinh vật khác. Hệ sinh thái rừng ngập mặn được ví như “vườn ươm tự nhiên”, cung cấp nguồn giống và thức ăn cho các loài thủy sản có giá trị kinh tế, góp phần duy trì nguồn lợi thủy sản ven biển và nâng cao thu nhập cho cộng đồng địa phương.

Một vai trò quan trọng khác của rừng ngập mặn là điều hòa môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Rừng ngập mặn có khả năng hấp thụ và lưu trữ lượng lớn cacbon trong sinh khối và trầm tích, cao hơn nhiều so với nhiều hệ sinh thái trên cạn. Bên cạnh đó, hệ thực vật ngập mặn còn góp phần cải thiện chất lượng nước thông qua quá trình hấp thụ chất dinh dưỡng dư thừa, lắng đọng phù sa và giữ lại một số chất ô nhiễm từ đất liền trước khi chúng phát tán ra biển.

Không chỉ mang lại giá trị sinh thái, rừng ngập mặn còn có ý nghĩa lớn về kinh tế và xã hội. Nhiều loài thực vật ngập mặn được sử dụng làm dược liệu, củi đốt, nguyên liệu xây dựng hoặc phục vụ sản xuất thủ công mỹ nghệ. Các khu vực rừng ngập mặn cũng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động nuôi trồng thủy sản, đánh bắt hải sản và phát triển du lịch sinh thái. Đồng thời, đây còn là địa điểm lý tưởng cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tồn thiên nhiên.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, hệ sinh thái rừng ngập mặn Hà Tĩnh đang phải đối mặt với nhiều thách thức. Quá trình đô thị hóa, chuyển đổi đất sang nuôi trồng thủy sản, ô nhiễm môi trường và tác động của biến đổi khí hậu đã làm suy giảm đáng kể diện tích cũng như chất lượng rừng ngập mặn. Nhiều khu vực ven biển xuất hiện tình trạng xói lở, suy thoái hệ sinh thái và mất nơi cư trú của các loài sinh vật.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng phức tạp, việc bảo tồn và phục hồi rừng ngập mặn tỉnh Hà Tĩnh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Cần tăng cường công tác điều tra, đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng ngập mặn; đẩy mạnh các chương trình trồng mới và phục hồi rừng; ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS trong giám sát tài nguyên; đồng thời nâng cao nhận thức của cộng đồng địa phương về vai trò của hệ sinh thái này. Những giải pháp trên không chỉ góp phần bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học mà còn tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của vùng ven biển Hà Tĩnh trong tương lai.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.       Võ Văn Chi, 2007. Sách tra cứu tên cây cỏ Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

2.       FAO and Wetlands International, 2007. Mangrove Guidebook for Southeast Asia, Printed by Dharmasarn Co. Ltd.

3.       Phạm Hoàng Hộ, 2001. Cây cỏ Việt Nam, tập I, II, III, Nxb. Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.

4.       Phan Nguyên Hồng, 1981. Nghiên cứu hệ sinh thái rừng ngập mặn Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu Hệ sinh thái RNM (MERC), Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội.

5.       Phan Nguyên Hồng, 1999. Rừng ngập mặn Việt Nam. Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội.

6.       Phạm Nhật và cộng sự, 2003. Sổ tay Hướng dẫn điều tra và giám sát đa dạng sinh học, Nxb Giao thông vận tải, 315-331.

7.       Đỗ Đình Sâm, Nguyễn Ngọc Bình, Ngô Đình Quế, Vũ Tấn Phương, 2005. Tổng quan rừng ngập mặn Việt Nam, Nxb. Nông Nghiệp, Hà Nội. 

8.       Lê Xuân Tuấn, Phan Nguyên Hồng, Trương Quang Học, 2010. Những vấn đề môi trường ven biển và phục hồi rừng ngập mặn ở Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ 3, Hà Nội, 678-692. 

9.       Trần Thị Tú, Nguyễn Hữu Đồng, 2014). Thành phần loài và biến động diện tích rừng ngập mặn tỉnh Hà Tĩnh, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, Số 1-2014, 3183-3194, ISSN: 1859-0373, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội.

10.   https://soha.vn/nhin-tu-tren-cao-nhung-canh-rung-ngap-man-xanh-muot-dep-nhu-tranh-o-ha-tinh-20230901143553188.htm.

 Copyright © 2026 Khoa Nông nghiệp - Môi trường  Rights Reserved.